Hỗ trợ trực tuyến

Tư vấn - Bs. Khánh

    Chat with me

0985828568

Video

Thống kê truy cập

Đang online:  1
Truy cập hôm nay:  39
Tổng số truy cập:  52876

Điều trị giảm mẫn cảm đặc hiệu ở bệnh nhân viêm mũi dị ứng, viêm kết mạc dị ứng, viêm da dị ứng và hen phế quản

Liệu pháp miễn dịch đặc hiệu ở bệnh nhân VMDU/ VKMDU/ HPQ ( Ths. Bs nội trú Thuỷ- Trung tâm dị ứng- MDLS)

1.     Đại cương

Liệu pháp miễn dịch đặc hiệu dị nguyên (SIT), hoặc giảm mẫn cảm dị nguyên, được sử dụng để điều trị các bệnh dị ứng quá mẫn type I (phản vệ, viêm mũi kết mạc dị ứng, hen). SIT sử dụng các chiết xuất dị nguyên để làm giảm các triệu chứng liên quan tới tiếp xúc dị nguyên. Tránh dị nguyên là cần thiết nhưng chưa đủ. Điều trị bằng thuốc có hiệu quả nhưng cần dùng thuốc liên tục. SIT là liệu pháp duy nhất hiện tại thay đổi đáp ứng miễn dịch. SIT bắt đầu từ liều thấp dị nguyên sau đó tăng dần mỗi tuần cho tới liều duy trì. Sau đó sẽ duy trì liều duy trì cách nhau 4-6 tuần trong 3-5 năm. SLIT an toàn và thuận tiện hơn SCIT.

2.     Cơ chế bệnh sinh

Cơ chế chính của liệu pháp miễn dịch:

*    Tăng KT IgG

*    Giảm IgE đặc hiệu

*    Giảm tế bào hỗ trợ

*    Thay đổi cytokine tế bào T

*    Tế bào T bất hoạt

*    Giảm tế bào B.

Ít nhất 3 giai đoạn với cơ chế khác nhau.

*    Giai đoạn đầu tiên, giảm mẫn cảm, tế bào mast và basophils được dung nạp với dị nguyên chỉ mất vài ngày. Điều này không chỉ giúp BN dung nạp với liều duy trì dị nguyên mà còn bảo vệ cơ thể tránh triệu chứng cấp tính khi tiếp xúc với dị nguyên. Tuy nhiên, dung nạp này không kéo dài và mất đi nhanh nếu SIT ngừng.

*    Giai đoạn thứ 2, SIT duy trì trong năm đầu tiên có sự dung nạp tế bào T, giảm đáp ứng pha chậm với dị nguyên và tăng tế bào T điều hòa (Tregs).

*    Giai đoạn cuối cùng với điều trị duy trì, dung nạp tế bào B, và giảm KT đặc hiệu.

SIT tạo ra KT IgG đặc hiệu dị nguyên, tăng dần trong quá trình điều trị, KT này bất hoạt dị nguyên và ngăn phản ứng dị ứng. KT IgE đặc hiệu dị nguyên ban đầu tăng, sau đó giảm dần, nhưng không mất hoàn toàn. Test da đọc nhanh ít vai trò trong đánh giá đáp ứng với dị nguyên. Ngược lại, test da đọc chậm âm tính sau SIT thành công. SIT làm giảm tế bào T và eosinophils trong đáp ứng với dị nguyên. Mất cân bằng về biểu hiện cytokine của Th1 và Th2. Biểu hiện cytokine của Th2 không bị thay đổi, tuy nhiên tăng biểu hiện cytokine Th1 bao gồm IL-2 và IFN-γ, IL-12. Tregs tăng biểu hiện CD25, FOXP3 và IL-10. IL-10 tăng sau vài ngày kể từ khi bắt đầu SIT. IgG4 điều hòa quá trình sản xuất IgE từ tế bào B do IL-4 kích thích, ức chế hoạt hóa tế bào mast phụ thuộc IgE, ức chế quá trình sản xuất cytokine và thời gian sống của eosinophil, giảm IL-5. Tóm lại, SIT điều hòa tế bào T đặc hiệu dị nguyên. Do vậy, đáp ứng lâm sàng muộn và không liên quan tới mức kháng thể đặc hiệu dị nguyên.

3.     Chỉ định SIT

Chỉ định liệu pháp miễn dịch đặc hiệu dị nguyên (SIT) khi:

Triệu chứng VMDU, VKMDU, hen dị ứng, hoặc phối hợp các bệnh trên sau khi tiếp xúc với dị nguyên.

Bằng chứng IgE đặc hiệu (bằng chứng trên test da với dị nguyên hoặc xét nghiệm IgE đặc hiệu dị nguyên huyết thanh)

≥1 tiêu chuẩn sau:

-       Đáp ứng kém với liệu pháp điều trị thuốc, tránh dị nguyên, hoặc cả hai.

-       Tác dụng phụ của thuốc không thể chấp nhận.

-       Tránh điều trị thuốc kéo dài và chi phí điều trị thuốc.

-       Dự phòng hen ở BN VMDU.

(*): VMDU trung bình tới nặng, hen dị ứng nhẹ tới trung bình bậc 2 tới 4 (FEV1>70%.).

4.    Chống chỉ định

Hen không ổn định. BN hen rất nặng, hen không kiểm soát là chống chỉ định SCIT vì làm tăng nguy cơ co thắt phế quản nặng.

 

5.     Hiệu quả của SIT trong viêm mũi dị ứng, viêm kết mạc dị ứng và hen dị ứng.

SCIT một hoặc nhiều dị nguyên tùy từng vùng. Ở Mỹ thường SCIT đa dị nguyên. Trong khi, Châu Âu SCIT một hoặc hai dị nguyên. Sử dụng đơn dị nguyên có thể làm giảm phản ứng dị ứng toàn thân. Hiệu quả sử dụng đa dị nguyên chưa được nghiên cứu rộng rãi do hầu hết nghiên cứu hiệu quả SCIT trên đơn dị nguyên.

Cần chỉ định liều thích hợp để đạt hiệu quả lâm sàng. Liệu pháp miễn dịch làm thay đổi bệnh, giảm mẫm cảm mới, giảm quá trình tiến triển từ viêm mũi tới hen, và dẫn tới cải thiện lâm sàng vài năm sau ngừng liệu pháp miễn dịch. Loại dị nguyên và cách dùng ngày càng giảm sự bất tiện và tăng tính an toàn của liệu pháp.

SCIT hiệu quả với các dị nguyên: cây, cỏ và phấn hoa, lông chó, lông mèo, mạt bụi, bào tử nấm, và gián. SCIT được tiêm dưới da một lượng dị nguyên nhỏ tăng dần cho tới liều cao. SCIT hiệu quả hơn SLIT trong điều trị bệnh VMDU, VKMDU, và hen dị ứng và dị ứng nọc độc ở cả trẻ em và người lớn.

Hiệu quả SCIT trong VMDU ngang GCs xịt mũi.

SCIT ngăn cản bệnh dị ứng tiến triển và tránh viêm kết mạc/mũi dị ứng tiến triển thành hen dị ứng.

5.1.         Viêm mũi dị ứng

Quan trọng là lựa chọn BN thích hợp. Yếu tố dị ứng trong viêm mũi cần được đánh giá cẩn thận qua hỏi tiền sử bệnh và test da hoặc xét nghiệm IgE, và loại trừ các nguyên nhân khác. SIT hiệu quả ở BN VMDU theo mùa, bao gồm cả BN kháng thuốc, sử dụng dị nguyên cỏ, phấn hoa. Hiệu quả ≥3 năm cho tới 10 năm sau ngừng thuốc, làm giảm điểm triệu chứng và giảm điểm sử dụng thuốc. Hiệu quả điều trị viêm mũi quanh năm ít hơn viêm mũi theo mùa. 60% BN không kiểm soát được triệu chứng với liều tối đa kháng histamine và GCs xịt mũi. Mặt khác, GCs xịt mũi có thể gây chảy máu mũi. SIT là lựa chọn hữu ích cho những BN này. SCIT đem lại hiệu quả gần bằng GCs xịt mũi [1].

Hầu hết VMDU là bệnh dai dẳng cần điều trị liên tục trong nhiều năm. Điều trị cần loại bỏ dị nguyên và điều trị thuốc, phối hợp thêm liệu pháp miễn dịch với VMDU năng hoặc kháng trị. Điều trị thuốc gồm có xịt GCs mũi. VMDU triệu chứng nhẹ hoặc gián đoạn điều trị GCs xịt mũi, hoặc kháng histamine uống/ xịt mũi, hoặc xịt mũi cromolyn. BN VMDU với triệu chứng trung bình tới nặng hoặc dai dẳng điều trị GCs xịt mũi± kháng histamine uống/ xịt mũi. VMDU kháng GCs xịt mũi và HPQ/polyp mũi điều trị GCs xịt mũi + montelukast. VMDU kháng GCs xịt mũi +VKMDU: GCs xịt mũi + kháng histamine nhỏ mắt.

5.2.         Hen phế quản

Liệu pháp miễn dịch làm giảm điểm triệu chứng và giảm điểm sử dụng thuốc (ICS).

5.3.        Viêm kết mạc dị ứng

Điều trị viêm kết mạc dị ứng gồm kháng histamine nhỏ mắt. Đối với VKMDU có triệu chứng nặng không đáp ứng với kháng histamine thì sử dụng GCs nhỏ mắt ngắn ngày. Nhằm giảm điều trị thuốc, VKMDU khó loại bỏ dị nguyên, hoặc kháng điều trị thuốc nên điều trị liệu pháp miễn dịch (SCIT > SLIT).

6.     Tính an toàn của liệu pháp miễn dịch

SLIT dạng viên an toàn và thuận tiện ở Châu Âu và Bắc Mỹ. SLIT ít phản ứng toàn thân hơn SCIT.

7.    Chiết xuất dị nguyên

Dị nguyên được sử dụng trong SCIT bao gồm: cây, cỏ và phấn hoa; lông chó, mèo; mạt; bào tử nấm; và gián.  Bảo quản ở 4C. Ở Hoa Kỳ, chỉ có dị nguyên lông mèo, mạt bụi nhà, cỏ, nọc độc là dị nguyên chuẩn. Hiệu quả SCIT phụ thuộc liều. Liều tối ưu phụ thuộc vào mỗi loại dị nguyên.

8.    Tiến hành liệu pháp miễn dịch

*    Bắt đầu 1-3 mũi tiêm/ tuần trong vài tuần -> liều duy trì 1 mũi tiêm mỗi 4 tuần trong 3-5 năm.

*    Tiêm đúng loại dị nguyên và đúng liều.

*    Theo dõi phản ứng sau tiêm: phản ứng tại chỗ và phản ứng toàn thân. Phản ứng tại chỗ phổ biến và liên quan tới vài yếu tố như: nồng độ dị nguyên và lượng dị nguyên được tiêm. Theo dõi 30 phút sau tiêm.

*    Điều chỉnh lịch tiêm khi: bỏ lỡ lần tái khám, lọ mới, mùa phấn hoa, dị ứng với dị nguyên mới, thay đổi nhà cung cấp dị nguyên.

*    Khám lại sau mỗi 6-12 tháng đánh giá sự tuân thủ điều trị, cải thiện lâm sàng, và phản ứng phụ, không cần làm xét nghiệm và test da nhắc lại.

Kết luận

Liệu pháp miễn dịch đặc hiệu dị nguyên (SIT), hoặc giảm mẫn cảm dị nguyên, được sử dụng để điều trị các bệnh dị ứng quá mẫn type I (phản vệ, viêm mũi kết mạc dị ứng, hen) qua cơ chế làm thay đổi đáp ứng miễn dịch bất thường. SIT làm giảm viêm qua đó làm giảm triệu chứng.

Comments:

Nổi bật

Thư viện ảnh

Liên kết website